PDA

View Full Version : Kỹ thuật trồng dứa cayenne


dungnguyen
12-10-2012, 01:19 PM
Dứa là cây ăn quả nhiệt đới, nguồn gốc ở Nam Mỹ (Brazil, Achentina, Paragoay. Hiện nay trên thế giới, cây dứa được trồng hầu hết các nước nhiệt đới và một số nước á nhiệt đới có mùa sông tương đối ẩm như đảo Hawai, Đài Loan. Dứa có thể trồng tới vĩ tuyến 380 bắc, trong đó các nước Châu Á chiếm trên 60% sản lượng dứa cả thế giới. Các nước trồng nhiều là Philippines, Thái Lan, Malaysia, Hawai, Brazil, Mêhicô, Cuba, Úc, Nam phi.http://nhanonglamgiau.com/media/caycongnghiep/ky-thuat-trong-dua.JPG


Quả dứa được coi là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng đầu, loại quả “vua”, rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Quả dứa có mùi thơm mạnh, chứa nhiều đường, lượng calo khá cao, giàu chất khoáng, nhất là Kali, có đủ các loại vitamin cần thiết như A, B1, B2, PP, C đặc biệt trong cây và quả dứa có chất Bromelin là một loại men thủy phân protêin (giống như chất Papain ở đủ đủ), có thể chữa được các bệnh rối loạn tiêu hóa, ức chế phù nề và tụ huyết, làm vết thương mau thành sẹo. Trong công nghiệp, chất Bromelin dùng làm mềm thịt để chế biến thực phẩm, nước chấm.
Ngoài ăn tươi, quả dứa chế biến thành dứa hộp và nước dứa, là những mặt hàng xuất khẩu lớn. Xác bã quả dứa sau khi chế biến dùng làm thức ăn gia súc và phân bón. Thân lá dứa làm bột giấy.
Ở nước ta, dứa trồng từ Bắc đến Nam, diện tích trồng cả nước hiện khoảng 40.000 ha với sản lượng khoảng 500.000 tấn trong đó 90% là phía Nam. Các tỉnh trồng dứa nhiều ở miền Nam là Kiên Giang, Tiền Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Long An… miền Bắc có Thanh Hóa, Ninh Bình, Tuyên Giang, Phú Thọ….miền Trung có Nghệ An, Quảng Nam, Bình Định,… Năng suất quả bình quân một năm ở các tỉnh phía Bắc khoảng 10 tấn, phía Nam 15 tấn/ha.
Trong năm cây dứa ra hoa nhiều vụ. Ở miền Bắc vụ chính ra hoa tháng 2-3, thu hoạch tháng 6-7, vụ trái ra hoa tháng 6-8, thu hoạch tháng 10-12. Ở miền Nam, dứa có thể ra hoa quanh năm, song thường tập trung vào tháng 4-5 và tháng 9-10. Từ khi ra hoa đến thu hoạch trung bình khoảng 4-5 tháng.
Yêu cầu điều kiện sinh thái:
a. Khí hậu
Dứa là cây ăn quả nhiệt đới, ưa nhiệt độ cao. Phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 20 - 300C. Giống Cayenne chịu lạnh kém hơn giống Queen và các giống địa phương. Ở nhiệt độ cao trên 32oC có thể làm cháy lá và vỏ quả, nhất là giống Cayenne.
Về lượng mưa, cây dứa có thể trồng nơi lượng mưa thấp, 600-700 mm/năm với mùa khô dài nhiều tháng cho đến những vùng lượng mưa nhiều tới 3500-4000 mm/năm. Quan trọng nhất là lượng mưa phân bố hàng tháng, khoảng 80-100 mm được coi là đầy đủ, không cần tưới thêm.
Về ánh sáng, cây dứa yêu cầu ánh sáng nhiều nhưng thích ánh sáng tán xạ hơn ánh sáng trực xạ. Thiếu ánh sáng cây mọc yếu, quả nhỏ. Ngược lại nếu ánh sáng quá mạnh kèm theo nhiêt độ cao lá sẽ bị vàng hoặc đỏ, lúc này cần che mát cho dứa. Cây dứa tuy không phải là cây ngày ngắn nhưng người ta thấy rằng giống Cayen nếu thời gian bóng tối kéo dài và nhiệt độ giảm thấp sẽ ra hoa sớm hơn.
Từ những yêu cầu trên, điều kiện khí hậu nước ta từ Bắc đến Nam đều thích hợp với cây dứa. Tuy vậy tùy theo đặc điểm từng thời gian ở từng vùng cần có biện pháp để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng phát triển thuận lợi, đạt năng suất và chất lượng cao.
b. Đất
Cây dứa có bộ rễ tương đối yếu và ăn nông nên muốn có năng suất cao đất cần có tầng mặt xốp, nhiều mùn và chất dinh dưỡng, đồng thời thoát nước tốt trong mùa mưa. Đất nhiều sét, thoát nước chậm, cây dứa sinh trưởng kém và dễ bị bệnh. Thoát nước và tơi xốp là 2 yêu cầu quan trọng nhất đối với đất trồng dứa.
Về độ pH, cây dứa nói chung thích hợp với đất chua, độ pH từ 4.5 đến 5.5, kể cả trên đất phèn có pH bằng hoặc dưới 4 dứa vẫn sống tốt. các giống dứa tây nhóm Hoàng hậu (Queen), giống Tây Ban Nha (Spanish) chịu chua khá hơn giống Cayen.
Ở nước ta, dứa trồng trên nhiều loại đất như đất đỏ bazan, đất đỏ vàng, phù sa cổ, đất bạc màu ở phía Bắc, đất xám ở miền Đông Nam Bộ và đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long. Tuy vậy, nếu không được bón phân đầy đủ, nhất là phân hữu cơ, năng suất quả sẽ không cao.

Yêu cầu chất dinh dưỡng
Dứa là cây yêu cầu rất nhiều chất dinh dượng do lượng sinh khối lớn. Theo tính toán, trung bình trên 1 hecta trồng trọt, dứa lấy đi từ đất 86 kg N (trong đó thân lá 74 kg, quả 9 kg), 28 kg P2O5 (thân lá 23 kg, quả 5 kg) và 437 kg K2O (thân lá 402 kg, quả 35 kg), cùng với các nguyên tố trung và vi lượng. Cây dứa ít có nhu cầu với Canxi. Yêu cầu với Lân cũng không lớn. Riêng với Kali cây dứa yêu cầu nhiều nhưng nếu bón nhiều Kali lại thưuờng dẫn đến bị thiếu Magiê cũng là một chất dinh dưỡng cần thiết.
Trong thời gian đầu sau khi trồng khoảng 5-6 tháng nhu cầu dinh dưỡng không lớn, chỉ khoảng 10% tổng số chất dinh dưỡng cây cần trong suốt chu kỳ sống. Sau khi cây đã mọc tốt, nhu cầu chất dinh dưỡng tăng rất nhanh, đặc biệt là Kali (gấp 4-5 lần so với đạm).
Ngoài ra, cây dứa cũng cần một số nguyên tố vi lượng khác như kẽm, sắt, Mangan, Đồng…. Nhưng các biểu hiện bị thiếu thường không rõ ràng.

Trồng và chăm sóc
1. Thời vụ trồng
Thời vụ trồng dứa thích hợp ở mỗi vùng phụ thuộc và điều kiện khí hậu có liên quan đến chất lượng chồi giống và thời gian ra hoa.
Ở miền Bắc có 2 thời vụ trồng chủ yếu là vụ xuân (tháng 3-4) và vụ thu (tháng 8-9). Trồng vụ xuân cây sinh trưởng gặp thời tiết ấm áp, có mưa, thuận lợi cho việc tích lũy dinh dưỡng để ra hoa sớm và cho quả to. Trồng vụ này nên trồng những chồi gia và lớn, cuối năm có thể ra hoa thuận lợi. Nếu trồng chồi non và nhỏ, cây cũng ra hoa nhưng không đều và quả nhỏ. Trồng vụ thu thời gian đầu thuận lợi cho sinh trưởng, nhưng sau đó gặp mùa đông lạnh cây tạm ngừng sinh trưởng, một số chồi già có thể ra hoa nhưng quả nhỏ. Vì vậy trồng vụ này nên trồng chồi non để năm sau ra hoa tốt hơn. Trồng vụ thu có thuận lợi là số lượng chồi giống thưuởng nhiều hơn vụ xuân.
Ở miền Nam nên trồng vào đầu mùa mưa, từ tháng 4-6. đến cuối năm cây lớn gặp thời tiết tương đối khô và lạnh, ngày ngắm, cây ra hoa thuận lợi và thu hoạch quả vào tháng 5-6 năm sau.
Riêng ở miền Trung nên trồng vào 2 thời gian là tháng 4-5 vào tháng 10-11. tồng các tháng 6-8 do ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng nên cây sinh trưởng chậm, cần phải chăm bón kỹ hơn.

2. Chọn đất và làm đất trồng
Đất trồng dứa cần có kết cấu nhẹ, đảm bảo thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp và hơi dốc. Với yêu cầu này, các vùng đồi thoai thoải của trung du phía Bắc và Đông Nam Bộ được coi là vùng đất lí tưởng cho cây dứa.
Ở đồng bằng sông Cửu Long độ cao so với mặt biển thấp, mặt đất gần mạch nước ngầm, lại chịu ảnh hưởng của quá trình phèn hóa nên muốn trồng dứa tốt phải đào mương lên líp cao, tốn đất và tăng chi phí.
Ngoài ra cần chú ý độ chua của đất. Nhóm dứa Cayen ít chịu chua hơn các nhóm Queen và Spanish. Vì vậy đất quá chua (pH dưới 5) nếu muốn trồng dứa Cayen phải bón vôi.
Ở vùng đồi có độ dốc cao nên trồng thành hàng theo đường đồng mức. Ở dưới mỗi hàng dứa có thể trồng một hàng cây cốt khí hoặc muồng để hạn chế xói mòn đất, che bóng cho quả khỏi rám nắng và góp phần cải tạo đất.
Việc làm đất có thể là cày xới toàn bộ diện tích hoặc theo từng hàng. Nếu phải đào mương lên lớp thù trồng theo từng hốc nhỏ.
Một công việc tương đối khó khăn khi làm đất là phá hủy cây dứa cũ để trồng lại đợt khác. Khối lượng thân lá dứa tương đối lớn, từ 100-200 tấn/ha, lại có nhiều xơ, khó tiêu chảy diện tích ít có thể dùng dao băm thành từng đoạn nhỏ rải xuống ruộng để làm phân. Diện tích lớn phải dùng máy bừa có răng đĩa đê băm chặt cây. Ở các nông trường có diện tích trồng lớn, người ta thiết kế lô trồng theo kiểu bàn cờ, có trục đường chính cho xe cơ giới và hệ thống đường ngang cho xe thô sơ và người đi.

3. Xử lý chồi
Xử lý chồi nhằm mục đích cho cây mau bén rễ phát triển và phòng ngừa sâu bệnh. Trước khi trồng cắt bỏ các lá khô ở gốc. Nhúng ngập 1/3 chồi từ phía gốc vào dung dịch thuốc sâu Pyrinex, Basudin, Vomoca, Oncol,… để phòng trừ rệp và tuyến trùng hại rễ; thuốc bệnh Alilette, Benlat... để phòng trừ thối nõn, thối thân...

4. Khoảng cách và mật độ
Để dễ đi lại chăm sóc và thu hoạch, dứa thường được trồng theo hàng kép, tức là trồng thành từng băng 2 hàng một. Khoảng cách giữa các băng khoảng (a) 80 cm, giữa 2 hàng trên băng (b) là 40cm, trên hàng cây cách nhau (c) 30 cm, với cách trồng và khoảng cách này, mật độ khoảng 55.000 cây/ha. Để tăng mật độ trên 60.000 – 70.000 cây/ha, trên một băng có thể trồng 3 hàng thậm chí 4 hàng, khoảng cách giữa các hàng cũng là 40 cm. tuy vậy do có 3 hàng nên việc làm cỏ khó khăn hơn và quả ở hàng giữa thường nhỏ hơn 2 hàng bên.
Công thức tính mật độ (a,b,c đổi ra đơn vị mét):


Trồng theo hàng kép

Trồng theo hàng 3


M =
2 x 10.000
M =
3 x 10.000


(a+b) x c
(a+2b) x c



Ở đồng bằng sông Cửu Long trồng theo từng líp nên thường không chia thành băng mà trồng khoảng cách cây đều nhau, khoảng 50-60 cm, mật độ chỉ đạt 20.000-30.000 cây/ha.
Mật độ là một trong các yếu tố quyết định đến năng suất ruộng dứa. Tùy thuộc vào điều kiện đất đai và chăm sóc mà lựa chọn mật độ phù hợp. Mật độ thấp, hiệu suất sử dụng đất và ánh sáng của ruộng dứa chưa cao nên sẽ khó đạt được năng suất tối đa. Trên thế giới, nhiều vùng thâm canh dứa hiện đang áp dụng mật độ trên 70.000 cây/ha, năng suất đạt 80 – 120 tấn/ha. Tuy nhiên, với mật độ cao như thế này, nếu áp dụng quy trình chăm sóc (bón phân, tưới nước,...) không hợp lý sẽ cho kết quả ngược lại, quả dứa nhỏ, năng suất thấp.

5. Tưới nước và giữa ẩm
Dứa tuy là cây chịu hạn khá, có thể trồng trọt ở những nơi đất khô cằn và các vùng đất dốc nhưng vẫn rất cần nước để sinh trưởng phát triển, cho năng suất cao và phẩm chất tốt. Ở những vùng có mùa khô rõ rệt như phía Nam và các vùng đồi dốc yêu cầu tưới nước và giữa ẩm cho dứa càng phải chú ý.
Ở đồng bằng sông Cửu Long đất thấp trồng dứa trên từng líp có mương nên việc tưới nước khá thuận lợi. Dùng gầu vảy hoặc máy bơm đặt trên xuồng lấy nước ngay từ mương lên. Có nước mương làm ẩm chân đất nên ngay trong mùa khô mỗi tháng cũng chỉ cần tưới dăm ba lần không khó khăn lắm.
Phủ đất ruộng dứa cũng là biện pháp dược quan tâm, áp dụng không những để giữ ẩm cho đất trong mùa khô mà còn chống úng và chống xói mòn đất trong mùa mưa, hạn chế cỏ dại, góp phần tăng năng suất dứa rõ rệt. Dùng màng phủ nilông màu đen phủ lên đất giữa 2 hàng dứa. Cũng có thể dùng rơm rác, cỏ khô để phủ, đồng thời cung cấp thêm chất mùn cho đất.

6. Tỉa chồi
Đối với cây dứa, tỉa chồi là biện pháp cần thiết để tăng năng suất quả, nhất là với các giống nhóm Queen và Spanish thường ra nhiều chồi, tranh chấp dinh dưỡng của quả,
Chồi cần tỉa bỏ trước hết là chồi ngọn và chồi cuống vì những chồi này không dùng làm giống. Việc tỉa chồi cuống tương đối đơn giản, chỉ cần dùng tay hoặc dao tách nhẹ ra khỏi cuống từ phía trên xuống. Riêng với chồi ngọn nếu bẻ trực tiếp sẽ ảnh hưởng đến quả, tạo ra vết thương dễ làm thối quả, nếu không cẩn thận có thể làm gãy cả quả.

7. Trừ cỏ
Trên ruộng trồng dứa cỏ dại thường phát triển nhiều, ánh hưởng rất lớn đến sinh trường của cây. Các loại hoá chất trừ cỏ dứa dùng hiện nay là các chất Ametryn (có các thuốc Ametrex, Gesapax…), chất Atrazin (các thuốc Atranex, Mizin…), chất Diuron (các thuốc Ansaron, Maduron…) và chất Paraquat (thuốc Gramoxon, Pesle…) các thuốc trên đều phải phun sau khi làm đất lần cuối trước khi trồng dứa hay sau khi trồng dứa cây cỏ còn nhỏ. Riêng chất Paraquat chỉ phun lên cỏ trước khi làm đất, không được phun trên ruộng đã có dứa vì sẽ làm cháy lá.

8. Bón phân
a. Bón lót: Bón phân lót cho dứa khi trồng vụ đầu hoặc sau mỗi vụ thu hoạch là rất cần thiết, có tính chất quyết định đến sự sinh trưởng và năng suất cây. Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ (phân chuồng, phân vi sinh, phân rác, phân xanh, phân Lân và vôi). Lượng phân hữu cơ bón là từ 10-15 tấn/ha. Lượng Lân nguyên chất (P2O5) là 30-50 kg (tương đương 200-350 kg suoer lân). Không nên bón vôi nhiều quá vì cây dứa cần đất hơi chua, không ưa lượng canxi cao. Lượng vôi khoảng 100-200 kg/ha tùy độ chua đất. Sau vài ba năm vườn dứa phải phá đi trồng lại, có thể băm nát thân lá trộn với đất cũng rất tốt.
b. Bón thúc: chủ yếu bằng hỗn hợp đạm, và kali với liều lượng cho 1 cây là 5-8 giảm N + 10-15 gram K2O (tương đương khoảng 10-20 gram Urê + 20-30 gram Clorua Kali). Chia bón 3 hoặc nhiều lần trước xử lý ra hoa 1,5 – 2 tháng.
Ngoài ra có thể bón phân một lần sau khi hoa nở xong để nuôi quả, lần này chỉ nên dùng phân kali và bổ sung thêm một số vi lượng, nhất là Bo (dạng axit Boric hoặc Borat). Nếu đã dùng phân Lân dạng Thermophotphat (Lân nung chảy Văn Điển) thì không cần bón thêm Magiê, nhưng nếu dùng Super Lân (Lân Lâm Thao) thì nên bón thêm Magiê với liều lượng khoảng 3 g/cây ở dạng đôlômit.
Các kết quả thí nghiệm của trung tâm nghiên cứu cây ăn quả phú Hộ (Phú Thọ) rút ra kết luận là với giống Queen để có năng suất và chất lượng cao nên bón NPK với tỉ lệ 2:1:3, tương đương 10:5:15 g/cây. Mức N tối thiểu không dưới 8 g/cây (tương đương 17 giảm Urê).
Cách bón là xới nông 2 bên hàng kép cách gốc 15-20 cm, rải phân rồi lắp đất lại. Có thể dùng thìa có cán dài xúc phân đổ vào nách lá già sát gốc. Rải phân xong nên tưới nước ngay. Ngoài ra hàng năm nên phun phân bón lá một số lần để bổ sung thêm chất dinh dưỡng cho cây, nhất là các chất vi lượng.
Tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng phát triển và nhu cầu dinh dưỡng của cây dứa mà bón lượng và tỷ lệ phân N, P, K một cách hợp lý. Trên thế giới, ở những vùng thâm canh dứa lớn, người ta thường dựa trên kết quả phân tích dinh dưỡng của lá D để xác định nhu cầu phân bón tại thời điểm. Phương pháp này sử dụng phân bón một cách hợp lý và hiệu quả nhất.

tuyetha06sg
12-10-2012, 01:19 PM
9. Phòng trừ sâu bệnh
a, Rệp sáp (http://nhanonglamgiau.com/forum/tags.php?tag=rep+sap)
Xuất hiện nhiều vào các tháng có ẩm độ không khí 70-80%, nhiệt độ thấp 15-20oC. Rệp tập trung ở gốc dứa, phần ngầm dưới đất và sát trên mặt đất. Vào tháng 5-9 rệp thường bò trên lá, quả, chồi ở trên cao. Rệp sáp là môi trường gây bệnh héo lá dứa (Wilt).
Để phòng trừ rệp sáp cần xử lý trước khi trồng bằng Este của axit phốtphoric nồng độ 0,02-0,03% ngâm 3-5 phút. Bi58 nồng độ 0,1-0,2% hoặc Basudin 0,1%+0,4% dầu hoả ngâm trong 3-5 phút. Thời kỳ dứa chưa ra quả phun Suprathion 40EC 0,1%+0,4% dầu hoả phun 1.000 lít dung dịch /ha.
b, Nhện đỏ hại dứa:
- Đặc điểm: Nhện tập trung trích hút ở phần mô trắng lá (Gốc lá) và tập trung ở những lá phía ngoài, chồi ngọn là chủ yếu, gây hiện tượng mất nước và tạo thành những đốm màu nâu hoặc đen. Lá ngã màu trắng vàng, cây thấp, còi cọc, quả nhỏ, khô.
- Nguyên nhân: Do nhện chích hút dịch cây, cây mất nước, khi dứa có quả nhện chích hút dịch quả. Nhện phát triển mạnh trong điều kiện khô hạn kéo dài. chúng có vòng đời ngắn ( 10 ngày). Nếu có thể gây thành dịch rất nhanh.
- Biện pháp phòng trừ: kiểm tra chồi giống và xử lý giống trước khi trồng. Nếu trồng vào mùa khô kéo dài cần theo dõi kỷ đồng ruộng để phát hiện kịp thời để phun thuốc phòng trừ. Dùng thuốc
+ Ortus 5SC nồng độ 0.2-0.3%( 20-30ml thuốc /10lít nước).
+ Comite 73EC nồng độ 0.05– 0.06%(5-6ml thuốc /10lít nước).
+ Kelthane 18.5 EC nồng độ 0.2-0.3% (20-30ml thuốc /10lít nước).
Lưu ý: Nhện có tính kháng thuốc nên mỗi loại chỉ dùng 1-2 lần. Nếu tái phát phải dùng loại thuốc khác.
c, Bệnh thối nõn
Bệnh do vi khuẩn Pseudomonas ananas, và thường xuất hiện vào mùa mưa, nhiệt độ cao, ẩm độ cao. Đặc biệt ở các tỉnh miền Bắc những năm sương mù nhiều thì bệnh phát sinh càng nặng.
Để phòng trừ bệnh thối nõn phải lấy giống ở vườn không bị bệnh, những vườn dứa bị bệnh phải phá luân canh cây khác ít nhất 1 năm. Bón phân cân đối N:P:K:Ca:Mg, tránh bón phân đạm đơn độc. Những khu thường xuyên bị nặng thì tránh kích thích ra hoa vào các tháng bệnh phát triển. Khi thấy xuất hiện bệnh thì phải phun thuốc: Maneb 0,5%, phun 4-5 lần, mỗi lần cách nhau 10-15 ngày, phun Aliette 80WP 0,4% lượng phun 1000lít dung dịch /ha.
d, Bệnh thối đen thân, chồi, quả
Bệnh phát triển vào mùa mưa, nhiệt độ cao. Nấm thâm nhập qua vết thương ở biểu bì cây, vết cắt của chồi, cuống quả.
Cách phòng trừ: Trong quá trình đánh tỉa chồi phải bó chồi dựng ngược để cho vết chồi khô, vận chuyển tránh dập nát, tránh trồng dứa vào thời gian có mưa nhiều. Thu dọn, huỷ bỏ chồi dập nát bị thối, phun phòng trên lô dứa mới bằng dung dịch Booc đô 1%. Đối với quả khi thu hoạch tránh làm dập quả và cuống, sau khi thu hoạch phải đưa vào phòng bảo quản, không để quá 24 giờ.
e, Bệnh vi rút héo đỏ lá dứa (Wilt)
Dứa Cayen dễ bị nhiễm bệnh vi rút này. Triệu chứng điển hình của bệnh là thối rễ, lá héo màu đỏ. Bệnh lan truyền do rệp sáp và những chồi tách từ cây mẹ đã bị bệnh. Rệp sáp di chuyển chủ yếu do kiến (cộng sinh với rệp), do vậy lan truyền nhanh.
Biện pháp phòng trừ: Chọn chồi giống dứa từ vườn giống khoẻ, không bị bệnh Wilt. Xử lý chồi trước khi trồng và phun thuốc khi phát hiện vườn dứa có bệnh (phun như rệp sáp phần trước). Đồng thời bón phân cân đối giữa NPKvà Mg.
f, Bệnh luộc lá: là bệnh do sinh lý cây trồng không thích ứng với điều kiện hiện tại
- Đặc điểm: Lá bị mất diệp lục chuyển từ màu xanh sang màu trắng nhợt như bị luộc trong nước sôi.
- Nguyên nhân: Do thời tiết thay đổi nhiệt độ hạ thấp đột ngột dưới 160C bón phân chưa cân đối, bệnh xuất hiện
- Phòng trừ: Bón phân cân đối, tăng lượng Mg vun gốc tủ ẩm chống rét cho cây.
g, Tuyến trùng hại rễ:
- Đặc điểm: Cây sinh trưởng chậm, lá có màu đỏ nhạt, đầu lá khô.
Bệnh gây nhiều nốt sần và nhiều biến dạng ở rễ, một tuyến trùng cái đẻ ra khoảng 600-800 trứng. Gây vết loét trên rể tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập. Làm hư hỏng bộ rể, ảnh hưởng đến cây dứa.
- Nguyên nhân: Do tuyến trùng ký sinh chủ yếu ở bộ rễ
- Biện pháp phòng trừ: Làm sạch tàn dư thực vật có bệnh trên đồng ruộng. Cày bừa đất trước khi trồng tối thiểu là 1 tháng. Trong điều kiện cho phép, phải luân canh cây dứa với cây trồng khác mà tuyến trùng hại dứa không có hoặc ít khi xuất hiện.
Ghi chú: Ngoài những loại sâu bệnh hại chính trên còn có một số sâu bệnh khác như: Thối chồi, khô đầu lá, thối lõi quả, chảy gôm quả nhưng ít xuất hiện.

10. Rải vụ thu hoạch
Cây dứa có thời vụ chín rất tập trung trong một thời gian ngán nên thường gặp một số khó khăn vè nhân lực và phương diện vận chuyển, thời gian cung cấp sản phầm cho thị trường và nhà máy chế biến cũng ngắn. Vì vậy ở những cơ sở sản xuất diện tích lớn, vấn đề rải vụ là một yêu cầu thực tế quan tâm. Để rải vụ áp dụng nhiều biện pháp.
- Trồng nhiều giống dứa khác nhau theo từng lô riêng để kéo dài thời gian thu hoạch. Ở miền Bắc, nhóm dứa Queen chín vào tháng 5-6, nhóm Spanish chín vào tháng 6-7 còn nhóm Cayen chín vào tháng 7-8. nếu trồng cả 3 nhóm giống thời gian thu hoạch có thể kéo dài từ tháng 5 đến tháng 8.
- Trồng nhiều loại chồi có kích thước, trọng lượng khác nhau vào các thời vụ và từng lô khác nhau cũng cho thời gian ra hoa và thu hoạch khác nhau,
- Xử lý cho cây ra hoa theo thời gian dự kiến là biện pháp rải vụ thu hoạch rất có hiệu quả.
a, Tiêu chuẩn cây để xử lý ra hoa
Đối với dứa Cayen khi cây 40-42 lá, trọng lượng cây dứa đạt từ 2 – 3kg, thường sau trồng 10-12 tháng.
b, Các chất dùng kích thích ra hoa
Axêtilen: là chất khí sản sinh khi cho đất đèn (Caxi các bua) tác dụng với nước. Cách sử dụng đất đèn để xử lý như sau:
- Xử lý ướt: Pha đất đèn thành dung dịch 2,5 – 3%. Cứ 10 lít nước hoà tan 0,25-0,3 kg, đất đèn đập nhỏ, hạt to nhất có đường kính dưới 10-15cm, pha chế trong thùng có vỏ chắc chắn, đổ 2/3 nước ở nhiệt độ thường vào thùng cho đất đèn vào đậy kín, chờ tan hết lấy dung dịch đã pha đổ vào nõn dứa mỗi cây 50mm (rót đầy nõn).
- Xử lý khô: Đập nhỏ đất đèn, kích thước hạt bằng hạt đậu tương , trọng lượng 1-1, 5g. Bỏ hạt đất đèn vào nõn dứa, mỗi cây 1 hạt vào buổi sáng khi còn sương đọng ở nõn. Nếu không có sương phải phun nước một lượt trên toàn bộ đồi dứa rồi mới bỏ mẫu đất đèn vào nõn dứa.
- Thời tiết, thời gian khi xử lý: Xử lý vào lúc trời mát, không mưa, nhiệt độ thấp. Xử lý tốt nhất vào thời điểm từ 18h chiều hôm trước cho đến 7h sáng ngày hôm sau. Mùa mưa nên xử lý 2 lần cách nhau 1-2 ngày để đạt tỷ lệ ra hoa cao.
Ethrel (Ethphon): pha Ethrel với nước sạch để có nồng độ 0,2-0,4% (2-4ml Ethrel hoà vào 1 lít nước), rót vào nõn dứa 10-15 ml/cây, để tăng hiệu quả xử lý pha thêm đạm urê. Cách pha như sau: 2,5 lít Ethrel + 20 kg urê pha vào 1.000 lít nước khuấy kỹ rồi đem phun cho 1 ha vào ngày mát hoặc chiều tối.
Lưu ý:Không nên xử lý ngay sau khi trời mới mưa xong đất còn quá ướt, trời nắng quá to, xử lý xong nếu gặp mưa phải xử lý lại

c, Thời gian xử lý và thu hoạch ở Miền Bắc:
Có thể tiến hành xử lý theo những khoảng thời gian sau:


Tháng xử lý
Từ xử lý - Ra hoa (ngày)
Từ xử lý -Thu hoạch (tháng)
Thời gian cho thu hoạch


T8-T10
50-60
6-7
T2-T5


T11-T12
60-70
7-7,5
T6-T7


T4-T6
30-35
4,5-5
T9-T11


T7
40-45
5-6
T12-T1





Nhanonglamgiau.com